Mẫu 10 lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học đáng tham khảo

Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

Lời mở đầu luận văn là một phần quan trọng để giới thiệu nội dung và mục tiêu của đề tài nghiên cứu. Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, việc lựa chọn một mẫu lời mở đầu phù hợp là một bước quan trọng trong quá trình viết luận văn thạc sĩ. Trên thực tế, mẫu lời mở đầu có thể khác nhau tuỳ thuộc vào từng ngữ cảnh nghiên cứu và mục tiêu của nghiên cứu. 

Trong bài viết này, Luận Văn Online sẽ khám phá một số mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học.
Xem thêm nội dung liên quan: Tổng hợp 10 mẫu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học đáng tham khảo

1. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học trong Tiếng Việt

Khi nói về màu trắng của da người, chúng ta có thể sử dụng nhiều từ khác nhau để miêu tả, như trắng hồng hay trắng tươi. Những từ này thường được sử dụng để diễn đạt những ý tích cực về màu sắc da. Ngược lại, trắng hếu hay trắng bệch thường biểu thị sự tiêu cực. Ví dụ, chúng ta không thể dùng trắng hồng hoặc trắng tươi để phê phán, và không thể dùng trắng hếu hoặc trắng bệch để ca ngợi một người nào đó về làn da của họ. Điều này cho thấy trong tiếng Việt, chúng ta có cả những từ biểu thị ý nghĩa tích cực (ameliorative) và từ biểu thị ý nghĩa tiêu cực (pejorative).

Việc nghiên cứu về ý nghĩa tích cực và ý nghĩa tiêu cực được quan tâm trong nhiều lĩnh vực của ngôn ngữ học, bao gồm cả ngôn ngữ học lịch sử và ngôn ngữ học đồng đại, cũng như ngữ âm học, từ vựng học, ngữ pháp học và ngữ dụng học.

Trong tiếng Việt, việc nghiên cứu về hiện tượng ý nghĩa tích cực và ý nghĩa tiêu cực trong ngôn ngữ hứa hẹn mang lại nhiều phát hiện thú vị, đặc biệt là trong việc phân tích các danh từ đơn vị và các vị từ trạng thái. Chúng tôi cho rằng, so với các từ vựng khác, hai loại từ này có sự biểu hiện phức tạp hơn về ý nghĩa trong mỗi ngữ cảnh mà chúng được sử dụng.

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi sẽ tìm hiểu về ý nghĩa tích cực và ý nghĩa tiêu cực của hai loại từ vựng này dưới góc độ ngôn ngữ học đồng đại và ngữ nghĩa học từ vựng. Mục tiêu của chúng tôi là có cái nhìn tổng quan về ý nghĩa của các từ vựng này trong tiếng Việt.

2. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học trong một số hoàn cảnh giao tiếp

Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

Tìm hiểu hội thoại giao tiếp xã hội ở các hoàn cảnh khác nhau, bao gồm giao tiếp trong Quân đội Nhân dân Việt Nam và các cộng đồng xã hội khác.

Ngôn ngữ hội thoại trong giao tiếp quân đội Nhân dân Việt Nam rất linh hoạt. Giao tiếp quân đội có cấu trúc và chức năng tương tự giao tiếp thông thường. Ví dụ: giao tiếp giữa bác sĩ và bệnh nhân tại Bệnh viện 108, giao tiếp giữa nhân viên và khách hàng tại các chi nhánh Ngân hàng Quân đội Hà Nội.

Dưới góc độ Ngữ dụng học, cuộc hội thoại giao tiếp quân đội, bất kể hoàn cảnh, vẫn mang những đặc điểm chung và tuân theo các quy tắc hội thoại.

Nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại là một lĩnh vực phong phú. Tuy nhiên, nghiên cứu ngôn ngữ hội thoại trong giao tiếp quân đội bằng tiếng Việt hiện chưa được nhiều tác giả quan tâm.

Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc yêu cầu cán bộ, nhân viên Quân đội Nhân dân Việt Nam phải có phẩm chất và năng lực toàn diện. Việc rèn luyện kỹ năng giao tiếp hiệu quả đã được quân đội quan tâm. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ hội thoại giao tiếp quân đội giúp cán bộ, nhân viên và học viên áp dụng ngôn ngữ vào thực tiễn giao tiếp và hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt.

Vì những lý do trên, đề tài “Đặc điểm ngôn ngữ hội thoại trong một số hoàn cảnh giao tiếp của Quân đội Nhân dân Việt Nam” đã được chọn làm hướng nghiên cứu trong luận án này.

3. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học trong ca dao tục ngữ

Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng là nơi diễn ra một quá trình giao thoa, cộng hưởng và tiếp biến văn hóa trong suốt nhiều thế kỷ. Văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng đã hình thành từ những ngày đầu tiên khi các bậc tiền nhân đặt chân lên vùng đất mới trong hành trình ra đi mở cõi về phương Nam. Do đó, văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng không chỉ kế thừa mạch nguồn văn hóa Việt mà còn qua quá trình giao lưu với thế giới bên ngoài và tiếp biến với văn hóa Chăm, đã thâu nhận nhiều yếu tố mới tạo nên sự đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung, từ đó hình thành những nét đặc trưng của văn học dân tộc trên hành trình Nam tiến.

Cũng như văn học dân gian ở nhiều vùng miền khác của cả nước, ca dao và tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng, với tài hoa sáng tạo của các tác giả dân gian, đã sử dụng nhiều tín hiệu thẩm mĩ trong nghệ thuật biểu hiện, nhằm phản ánh một cách tinh tế những cung bậc tình cảm, chiều sâu tâm trạng và sự đa dạng, phong phú của cuộc sống. Khi nói đến tín hiệu thẩm mĩ, chúng ta đề cập đến vấn đề có liên quan đến nhiều chuyên ngành, vì vậy nó được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau, nhưng trước hết và trực tiếp là ở góc độ ngôn ngữ học và mối tương quan giữa ngôn ngữ học và văn học.

Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao và tục ngữ cho phép chúng ta không chỉ phát hiện ra những đặc điểm về hình thức và nội dung của tín hiệu thẩm mĩ, mà quan trọng hơn là thông qua đó có thể nhìn thấy cái nó phản ánh, biểu hiện – đó chính là bối cảnh xã hội, hiện thực đời sống, môi trường tự nhiên, phong tục tập quán, tâm lý nhân vật…

Mặc dù đã có nhiều công trình sưu tầm, biên soạn và giới thiệu văn học dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng, nhưng đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu Văn nghệ dân gian Quảng Nam – Đà Nẵng (1983) và Văn học dân gian Quảng Nam (2001) của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về giá trị nghệ thuật của ca dao và tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng, đặc biệt là từ góc độ tín hiệu thẩm mĩ. Trong khi đây là một trong những phương thức giúp cho người đọc hiểu được cái hay, cái đẹp, cái tinh tế trong văn học nói chung và ca dao tục ngữ nói riêng. Từ đó, chúng ta có thể xác lập lòng yêu mến vốn văn hóa của cha ông, biết quý trọng, giữ gìn và phát huy những gì thế hệ trước đã truyền lại cho chúng ta – những chủ nhân hiện tại của đất nước.

Với lý do trên, chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao và tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng.

4. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học đặc điểm ngôn ngữ

Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

Người nước ngoài nghe người Việt nói chuyện với nhau đều tưởng rằng chúng ta đang hát. Ngôn ngữ của chúng ta mang trong mình những yếu tố cung điệu của âm nhạc, điều này làm cho việc sáng tác ca khúc tiếng Việt trở nên thuận lợi hơn. Tuy nhiên, viết một ca khúc không chỉ yêu cầu chất lượng về âm điệu mà còn cần sự chú trọng đến ngôn từ. Trong quá trình này, việc lựa chọn từ ngữ phù hợp cho nhan đề của ca khúc trở thành một vấn đề quan trọng mà cả nhà nghiên cứu nói chung và nhà nghiên cứu âm nhạc, nghiên cứu ngôn ngữ nói riêng đều quan tâm nghiên cứu.

Chính vì lý do đó, chúng tôi muốn tìm ra lời giải đáp cho vấn đề trên. Hiện nay, việc sáng tác và lựa chọn nhan đề cho ca khúc đang gặp phải một số vấn đề. Báo chí đã phản ánh những bất cập như việc sử dụng nhan đề gây sốc trong ca từ của tác giả Đặng Trung Công, hoặc việc gây tranh cãi với nhan đề của ca khúc “Nắng cực” của tác giả Phạm Toàn Thắng. Những ý kiến trái chiều xoay quanh nhan đề của ca khúc đã được đưa ra. Trong thời đại công nghệ thông tin hiện đại, âm nhạc có thể lan truyền rất nhanh và có sức ảnh hưởng đến cộng đồng rất lớn. Vì vậy, việc lựa chọn ngôn từ phù hợp là rất quan trọng.

Ngoài ra, khi nghe một ca khúc, không chỉ nội dung lời bài hát mà cả nhan đề của ca khúc cũng thu hút sự chú ý của thính giả. Nhan đề của ca khúc đóng vai trò quan trọng trong việc truyền thông tin. Nhan đề được coi như bộ mặt của ca khúc, mang đến linh hồn và định hướng cho người nghe. Mỗi ca khúc không chỉ được đánh giá qua nội dung mà còn qua nhan đề, nó góp phần làm nên thành công của ca khúc. Tuy nhiên, hiện nay, việc sử dụng ngôn ngữ trong việc thiết lập nhan đề cho ca khúc tiếng Việt chưa được quan tâm đúng mức. Chúng tôi nhận thấy rằng việc tạo ra nhan đề cho ca khúc là rất quan trọng đối với người sáng tác và cũng quan trọng đối với việc truyền thông tin đến thính giả. Vì những lý do trên, chúng tôi quyết định nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ trong nhan đề của ca khúc Trịnh Công Sơn.

5. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học – ngôn ngữ trên quảng cáo

Quảng cáo là một trong những hình thức giao tiếp quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Bởi lẽ trong xu thế hội nhập ngày nay, muốn kinh tế phát triển thì trước hết sản phẩm làm ra phải có người biết đến và tiêu thụ theo nguyên tắc thị trường. Không một phương thức giới thiệu sản phẩm nào đến với người tiêu dùng nhanh và hiệu quả hơn quảng cáo.

Các phương thức và phương tiện quảng cáo rất đa dạng. Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về quảng cáo (xin nói chi tiết ở phần lịch sử vấn đề), nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ trên quảng cáo thương mại ngoài trời. Nghiên cứu đề tài này, người viết muốn có một cái nhìn sâu sắc hơn về phương tiện và phương thức quảng cáo thương mại ngoài trời trên bình diện ngôn ngữ học, từ đó thấy được ưu điểm và hạn chế của việc sử dụng quảng cáo thương mại ngoài trời ở Việt Nam.

Hy vọng luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo chi tiết cho những người làm quảng cáo và muốn chọn quảng cáo làm phương tiện tiếp thị sản phẩm. Ngoài ra, luận văn cũng sẽ đưa ra các khái niệm, phân tích và ứng dụng ngôn ngữ học trong quảng cáo thương mại ngoài trời, mang lại cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vấn đề này.

6. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học – ngôn ngữ nước ngoài

Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

Trong lịch sử, Việt Nam và Hàn Quốc chịu ách thống trị của các quốc gia khác và trạng thái tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Việt, tiếng Hàn với các ngôn ngữ khác là không bình đẳng. Tiếng Việt tiếp xúc với nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Nga và tiếng Anh. Vì vậy, tiếng Việt chịu ảnh hưởng rất lớn từ các ngôn ngữ mà nó tiếp xúc. Trong khi đó, tiếng Hàn tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Nhật và tiếng Anh và cũng giống như tiếng Việt, tiếng Hàn chịu ảnh hưởng của nhiều ngôn ngữ đặc biệt là tiếng Hán và tiếng Nhật. Qua việc tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài, Việt Nam và Hàn Quốc đang là những quốc gia tham gia tích cực vào quá trình toàn cầu hoá. Vì vậy, nhu cầu tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài của người dân ngày càng tăng cao. 

Thực tế, do thiếu các biện pháp hữu hiệu nên chính sách ngôn ngữ của cả Việt Nam và Hàn Quốc chưa tạo ra được động lực và định hướng cho việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài của người dân. Các mức độ ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến nhu cầu, thái độ, nội dung và hình thức tiếp thu ngôn ngữ nước ngoài chưa được đánh giá đúng mức. Việt Nam và Hàn Quốc là hai quốc gia khác nhau về lịch sử dân tộc, ngôn ngữ, chính trị, văn hoá. Vì vậy, nghiên cứu và so sánh những tác động của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài ở mỗi nước nhằm rút ra bài học để xây dựng và triển khai các chính sách ngôn ngữ là việc có ý nghĩa thiếu thực trong bối cảnh toàn cầu hóa. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam và Hàn Quốc. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đánh giá mức độ và phạm vi ảnh hưởng của những chính sách này đến việc tiếp xúc ngôn ngữ nước ngoài ở cả hai nước. Xuất phát từ những lý lợi trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đối với việc tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ nước ngoài trong đời sống hiện nay ở Việt Nam và Hàn Quốc” để nghiên cứu.

7. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học của người nông dân

Cùng với sự phát triển của ngôn ngữ học thế giới, ngôn ngữ học ở Việt Nam trong khoảng hai thập niên đã chú trọng nghiên cứu ngôn ngữ theo chức năng giao tiếp. Trong nghiên cứu này, chủ đề giao tiếp là một nội dung quan trọng, được thể hiện qua hành động ngôn ngữ và vai trò giao tiếp. Vai giao tiếp chỉ thực sự nhận ra thông qua hình thức diễn đạt cụ thể. Hành động ngôn ngữ cũng đóng vai trò quan trọng trong thiết lập mối tương quan giữa các nhân vật giao tiếp. Mỗi người có nhiều vai từ trong gia đình đến xã hội. Khi tham gia giao tiếp, mỗi cá nhân sẽ xác định vai giao tiếp và lựa chọn hành động ngôn ngữ tương ứng để đạt hiệu quả.

Việt Nam là một dân tộc có nền văn minh nông nghiệp lúa nước lâu đời. Nền văn minh nông nghiệp này tạo ra lực lượng mạnh và có vai trò quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đặc biệt là với nông dân. Vì vậy, việc xem xét đặc điểm ngôn ngữ của nông dân từ góc độ ngôn ngữ học xã hội là cần thiết trong nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu này cũng có ý nghĩa trong việc góp phần vào nghiên cứu xã hội Việt Nam nói chung và người nông dân Việt Nam nói riêng, từng giai đoạn lịch sử của đất nước.

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về người nông dân từ nhiều góc độ khác nhau như nhân học, văn hóa học, văn học v.v… Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân từ góc độ ngôn ngữ học.

Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ của con người thường được thực hiện bằng cách nói và viết. Tác phẩm văn học luôn là một sáng tạo nghệ thuật hoàn chỉnh, thể hiện tư tưởng và tình cảm của nhà văn đối với cuộc đời thông qua hoạt động giao tiếp và mối quan hệ giao tiếp của các nhân vật trong tác phẩm. Mỗi tác phẩm văn học là một cuộc giao tiếp lớn, trong đó có nhiều cuộc giao tiếp nhỏ. Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các nhân vật trong tác phẩm văn học giúp hiểu giá trị của tác phẩm và khám phá các cách thức giao tiếp của người Việt trong lịch sử.

Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: Đặc điểm ngôn ngữ của người nông dân (từ tư liệu một số tác phẩm văn học).

8. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học – thành ngữ, tục ngữ

Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

Xã hội đang phát triển và trong xu thế đổi mới, hội nhập của đất nước, vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc được quan tâm sâu sắc, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Văn hoá và bản sắc văn hoá của dân tộc được nghiên cứu trong mối quan hệ liên ngành khác nhau, trong đó có mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá. Mối quan hệ này đã được nghiên cứu rộng rãi trên toàn thế giới bởi những nhà nghiên cứu khác nhau, như Humboldt với lý thuyết Ngôn ngữ và linh hồn dân tộc; E. Sapir và Whorf với quan niệm về tính tương đối ngôn ngữ (linguistic relativity), mà Carroll đã gọi là giả thuyết Sapir – Whorf; và những giả thuyết khác của Weisberger và Tiber, Boas, Kroeber…

Vấn đề về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa ngày càng được xem xét rộng rãi hơn nhưng vẫn còn nhiều tranh cãi. Ngôn ngữ và văn hoá có mối quan hệ gắn bó với nhau, ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, không chỉ là công cụ để tư duy mà còn là quan niệm của con người với tư cách là chủ thể tri nhận và phân cắt hiện thực bằng mã ngôn ngữ.

Để làm rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá, việc nghiên cứu lớp thành ngữ và tục ngữ, một trong những đơn vị cấu thành và chứa đựng văn hoá, là điều đáng chú ý. Đặc trưng văn hoá của dân tộc không chỉ thể hiện qua những quan niệm về nhân sinh, về thế giới và kinh nghiệm đúc kết trong thành ngữ, tục ngữ mà nó còn thể hiện qua những hình ảnh biểu trưng, những tính chất, sắc thái của hình ảnh mang biểu tượng. Và thông qua so sánh đối chiếu với dân tộc khác, ta mới nhận ra được nét đặc trưng riêng biệt và những điểm tương đồng trong cách tri nhận và phân cắt thực tại giữa các cộng đồng thông qua mã ngôn ngữ.

Ngôn ngữ phản ánh nền văn hoá dân tộc, do đó, xuất phát từ những cứ liệu ngôn ngữ mang đậm dấu ấn văn hoá dân tộc, ta có thể giả định rằng có sự khác nhau đáng kể về đặc trưng ngôn ngữ – văn hoá trong thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt và tiếng Anh.

Chính vì vậy người viết đã chọn đề tài: Đặc trưng ngôn ngữ – văn hoá Việt qua thành ngữ, tục ngữ có từ chỉ màu sắc (so sánh với tiếng Anh).

9. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học trong thơ Xuân Diệu

1.1. Chuyển trường là một hiện tượng đặc biệt trong sử dụng ngôn ngữ. Nó tạo ra những giá trị biểu đạt mới cho từ, theo đó tạo ra nhiều liên tưởng và ý nghĩa cho câu và văn bản. Hiện tượng này khi xuất hiện một cách tập trung và có ý sẽ khiến cho cuộc giao tiếp ngôn ngữ mang một sắc thái khác lạ. Để thoát khỏi quán tính của thói quen trong giao tiếp ngôn ngữ, người ta có thể có nhiều lựa chọn khác nhau. Một trong những cách thể hiện độc đáo và hiệu quả là việc sử dụng từ vẫn chuyển đổi trường nghĩa. Lời nói thường ngày mà dùng đến phương thức này nhiều khi làm tăng tính phổ thông (vẫn là một thuộc tính cơ bản của tín hiệu ngôn ngữ). Tuy nhiên, trong sáng tác nghệ thuật, việc dùng từ vẫn theo phương thức chuyển đổi trường nghĩa lại được các nhà nghệ sĩ ngôn từ đặc biệt ưa dùng. Vì vậy, có thể nói, chuyển đổi trường nghĩa từ vẫn có thể được coi là một biện pháp tự tử hiệu quả trong sáng tác văn chương. Điều này có thể giúp mở rộng khía cạnh sáng tạo và đa dạng hóa ngôn ngữ.

1.2. Xuân Diệu là một tác giả lớn trong Văn học Việt Nam hiện đại. Bằng phong cách riêng, ông đã đặt lên đời một thành tựu nghệ thuật độc đáo với nhiều tác phẩm thơ ca được sáng tác. Nói về Xuân Diệu, người ta thường nhắc đến thơ ông với những cách tân độc đáo, thú vị, bất ngờ và lạ lùng. Trong những “cái mới” mà Xuân Diệu đưa đến cho nền thi ca Việt Nam hiện đại, có lẽ, ơn tưởng nhất là những cách tân ngôn ngữ. Trong thơ ông, ta thấy một số lượng lớn từ vẫn được sử dụng trong bối cảnh chuyển đổi ý nghĩa. Sự chuyển đổi trường không chỉ đã khiến cho thơ ông thoát ra ngoài quy luật dùng từ ngữ sáo mòn mà còn giúp cho những tác phẩm thơ vươn lên trên các giới hạn của phong trào thơ đương đại. Trong sáng tác thi ca, Xuân Diệu đã gần kết các từ ngữ khác trường nghĩa lại với nhau, tạo ra rất nhiều kiểu chuyển nghĩa, chuyển trường của từ. Sự chuyển trường này tạo nên những kết hợp phi logic thông thường, làm cho người ta ngạc nhiên từ câu chữ cho đến ý nghĩa vẫn chẳng bên trong chúng. Điều này không chỉ làm cho thơ của ông trở nên phong phú và đa dạng hơn, mà còn làm cho người đọc cảm nhận được sự sáng tạo và sự khác biệt trong tác phẩm ông.

1.3. Giá trị của thơ Xuân Diệu có thể được nhìn nhận từ các góc độ khác nhau. Nghiên cứu thơ ông từ hiện tượng chuyển trường nghĩa cũng là một hướng đi cần thiết và đầy sức hút. Chúng tôi chọn đề tài “Hiện tượng chuyển trường nghĩa trong thơ Xuân Diệu” làm luận văn của mình để khám phá và phân tích sâu hơn về cách mà Xuân Diệu đã thể hiện sự chuyển trường trong tác phẩm thơ của ông. Điều này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ hơn về sự đa dạng và sáng tạo trong ngôn ngữ của tác giả, đồng thời khám phá nhiều khía cạnh mới về giá trị và ý nghĩa của thơ Xuân Diệu.

10. Mẫu lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học nghiên cứu Truyện Kiều

Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học
Lời mở đầu luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học

Truyện Kiều–Tập đại thành văn học trung đại Việt Nam, một tác phẩm tâm huyết của Nguyễn Du “Như có máu chảy trên đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy” và thể hiện con mắt “trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời” (Mộng Liên Đường) của ông. Tác phẩm này đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển của ngôn ngữ văn học dân tộc. Nghiên cứu về ngôn ngữ trong Truyện Kiều giúp chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về tài năng sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du.

Nguyễn Du đã sáng tạo nên Truyện Kiều với nội dung sâu sắc và nghệ thuật tuyệt vời. Khi nói về thành công của tác phẩm này, không thể không nhắc đến những lập luận mà các nhân vật trong truyện đã đưa ra trong giao tiếp, với sự chặt chẽ và lý do thuyết phục. Những điều này được thể hiện qua cách viết và ngôn ngữ sống động.

Hiện nay, Truyện Kiều đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống tinh thần của người Việt nói chung và văn học nói riêng. Nhiều người đã thuộc lòng Truyện Kiều, kể về Kiều, đọc Kiều và cảm nhận Kiều. Do đó, các lập luận của các nhân vật trong tác phẩm luôn thu hút sự chú ý và được sử dụng rộng rãi.

Trong Truyện Kiều, các nhân vật thường sử dụng lập luận trong giao tiếp. Lập luận của nhân vật Thúy Kiều là một trong những lập luận thu hút người đọc nhất. Vì vậy, nghiên cứu về lập luận của nhân vật Thúy Kiều từ góc độ ngôn ngữ học là một đề tài cần thiết để phân tích cách mà nhân vật đã lập luận.

Với tình yêu và đam mê với Truyện Kiều cùng với cách mà các nhân vật trong tác phẩm lập luận, chúng tôi đã chọn đề tài Nghiên cứu Truyện Kiều từ góc độ ngôn ngữ học: Lập luận của nhân vật Thúy Kiều cho luận văn tốt nghiệp của mình.

—-

Xem thêm các bài viết khác cùng chủ đề:

Luận Văn Online hy vọng rằng bài viết này đã giúp bạn giải đáp một phần những băn khoăn về việc tìm một dịch vụ uy tín để viết thuê luận văn.

Nếu bạn cần tư vấn hoặc giải đáp thắc mắc về dịch vụ viết thuê luận văn.

Hãy liên hệ trực tiếp với nhân viên tư vấn qua hotline: 0972.003.239 – email: edu.luanvanonline@gmail.com. Hoặc để lại thông tin liên lạc của bạn qua trang web: https://luanvanonline.com/.